Đã đóng

Học sinh bình thường cũng có thể giỏi Lý

Archive for Tháng Chín 9th, 2008

Alessandro Volta – người phát minh ra pin (sơ khai)

Posted by Tô Lâm Viễn Khoa trên 9 Tháng Chín, 2008

Bá tước Alessandro Giuseppe Antonio Anastasio Volta (1745 – 1827) là nhà vật lý người Ý, người đầu tiên chế tạo ra pin (pin Volta)

THỜI THƠ ẤU

“Nếu nó nói khó khăn thì ít ra nó cũng không nói những điều ngu xuẩn”

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯

-“Ông ơi, tại sao thằng bé này vẫn chưa biết nói? Các anh nó có ai nói chậm như nó đâu!”.

Ngừơi chồng trấn an vợ:

-“Thôi, bà đừng khổ tâm như thế, Alessandro sau này chắc không được năng khiếu thiên phú gì đâu, nhưng tôi thấy mắt nó linh họat, và nếu nó nói khó khăn thì ít ra cũng không nói những điểu ngu xuẩn”.

Đúng thế, ở lứa tuổi má các cậu bé khác cắp sách đến trường, Volta đã phải khó nhọc lắm mới nói được vài tiếng. Thế nhưng, kể từ ngày đó, Volta tiến bộ thật nhanh. Chẳng mấy chốc cậu bé biết đọc và rồi để lộ một óc hiếu ký hiếm thấy. Khác hẳn các em thần đồng khác chỉ có tính hiếu kỳ ngòai mặt, Volta có óc quan sát và biết suy nghĩ. Song trí tưởng tượng quá phong phú của cậu thường đẩy cậu vào các ảo tưởng của mấy chuyện ngụ ngôn và thi ca. Chính vì thế mà hồi 12 tuổi, cậu súyt chết đuối khi phóng mình xuống một đầm nước để tìm một mạch vàng mà mọi người quả quyết là có. Mồ côi cha, cậu cùng với me và các chị nương than tại nhà người cậu làm thầy tu tên Gattoni. Từ đấy, Volta tự xem như có bổn phận phải luôn luôn đứng đầu lớp. Mặc dầu hết sức say mê môn khoa học, cậu vẫn không chút xao nhãng các môn văn chương và triết học và ngòai ra còn sáng tác thơ bằng chữ LaTinh và chữ Pháp.

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Luật sư hay thầy tu!

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Ông cậu Gattoni có lần cho bíêt ý định của mình:

-“Chúng ta hãy cho Volta trở thành một luật sư”

Nhưng vị linh mục dòng Tên, Bonesi, thầy dạy của Gattoni, bác ngay:

-“Không được. Cậu bé đã được thương đế ban cho đủ mọi đức tính để trở thành một thầy tu”.

Nhưng cả hai người đều lâm. Thiên chức của Volta không đẩy cuộc đời cậu về các Pháp Án Tập cũng chẳng đưa cậu vào cuộc sống thanh bạch của nhà dòng.

Ngược lại, tính hiếu kỳ của tuổi trẻ đối với thế giới xung quanh và những thú vui của nó đã biến đổi, nơi con người cậu, thành một nhu cầu mãnh liệt đòi hỏi phải nắm lấy tất cả các bí mật của tạo hóa. Hồi thời Volta còn niên thiếu, thử hỏi khoa Vật Lý học đã tiến được đến đâu? Có lẽ cũng như ngành khoa học không gian cách đây một thế kỷ, nghĩa là hết sức thô sơ. Tuy nhiên, môn Từ họcĐiện học– mà từ thời của Pline, các nhà bác học không hề để tâm đến, trừ vài trường hợp ngọai lệ- bỗng trở thành vấn đế thời sự. Sự tiếp tục các cuộc khảo cứu đã dẫn đến sự phát mịnh ra hiện tượng tọng điện( được chứng minh bằng thí nghiệm cái chai lừng danh của Leyde). Bose đã kích thích đuợc thúôc sung bằng một tia điện và Winckler sáng chế ra máy tính điện.

Volta được cái may mắn là tìm thấy nơi thầy tu Gattoni một ngừơi bạn và một người bảo hộ. Gattoni đã đặt dưới quyền sử dụng của nhà khảo cứu trẻ tuổi tất cả những phương tiện cần thiết đễ giúp chàng dồn mọi nỗ lực vào các cuộc tìm kiếm khoa học và cũyng đễ đọat những mảnh bằng. Thế nhưng, văn bằng không phải là điều mà Volta hằng mong ứơc…

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Trực giác khoa học!

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Sau những cố gắng hòai công nhằm hòa giải các thuýêt đã biết, nhà bác học trẻ tuổi chú tâm vào cá ứng dụng trực tiếp của điện học. Những vắn kiện nay vẫn còn nổi tíêng chứng tỏ hoạt động của chàng. Đó là những văn kiện liên lạc gởi cho nhà điện học Beccaria và nhà vạn vật học Spallanzani, được xem như những nhà chuyên môn vĩ đại nhất của thời họ trong hai lĩnh vực này. Còn lúc này Volta chỉ mới 24 tuổi!

Kể từ 1796 trở đi, các trực giác của thiên tài Volta nối tiếp nhau: Chính các trực giác này đã đóng một vai trò quyết định vào những cuộc khảo cứu và khám phá của những năm kế tiếp. Các khám phá này là kết quả của bếit bao kinh nghịệm rút từ các sự tHâu lượm mới mẻ trước.

Dẫu cho Volta không sáng chế ra loại pin điện mang tên ông, ông cũng vẫn được xếp vào hàng đầu trong lịch sử Vật Lý nhờ phát minh “Bình phát cảm ứng điện vĩnh cửu” (1775) mà ông gọi là nguồn gốc các động cơ cảm ứng từ tương lai. Ngòai ra, nhân lọai còn mang ơn ông đã sáng chế ra khí nhiên kế, mà ngaỳ nay dùng để đo lượng oxygen có trong không khí; máy đọng điện (1782) và máy điện nghiệm. Cũng chính ông là người đầu tiên khám phá ra khí bốc từ các đầm lầy, mà ngày nay gọi là khí mêtan –CH4.

Trực giác khọa học đã dẫn ông đến các phát minh khoa học và khám phá ấy như thế nào?

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Chiếc đùi ếch và phát minh vĩ đại

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯

Cần nhớ rằng trước thời kì Volta phát minh ra pin thì người ta chưa có biện pháp khả dĩ nào để lưu lại dòng điện một cách lâu dài. Hầu hết các dòng điện đều chỉ thoáng qua, tồn tại trong thời gian ngắn và yếu, gây cản trở rất nhiều cho việc nghiên cứu điện.

Vào năm 1776, một bữa nọ Volta đi dạo bờ Đại hồ. Ông đang đưa mắt nhìn những cây sậy ýêu ớt mọc dưới mé nứơc thì thình lình những bọt khí xuất hiện dứơi bùn đập vào mắt ông. Liền đó ông liền nảy sinh ý tưởng rằng các bọt khí đó chắc phải là một chất gì đó cháy được. Rồi khi trở lại nơi đó, ông tìm cách hứng lấy một ít khí ấy và đưa đến gần ngọn lửa. Điều ông nghi ngờ đã thành sự thật.

Khám phá này cùng các ứng dụng của nó đã gây thêm tiếng tăm cho Alessandro Volta và sau đó ông đã được mời giữ chức giáo sư Vật Lý học thực nghiệm tại Đại học Parie, nơi đây ông đã dạy suốt 30 năm.

Lúc bấy giờ Louis Galvani (1737- 1798), một nhà sinh học, đang dạy môn giải phẫu học tại Đại học Bologne. Nhà bác học này không hề bỏ qua cuộc khảo cứu nào của Volta, vì chính ông cũng hết sức muốn tìm hiểu các hiện tựợng do điện gây ra nơi lòai thú. Ông nghiệm thấy rằng những con ếch bị giết do co rút bắp thịt khi có kim lọai chạm vào.Thí nghiệm của ông bắt đầu từ một ngày kia, sau khi tan lớp, Galvani đem nửa thân sau của một con ếch đã lột da với những dây thần kinh lưng, treo vào một lan can sắt của phòng học. Ông ta ngạc nhiên khi thấy mỗi lần chân ếch đong đưa đụng vào lan can sắt thì bắp thịt của chân ếch bị kích thích và co giật lại. Galvani cố ý đẩy chân ếch đụng vào lan can nhiều lần nữa và cứ mỗi lần đụng như vậy thì chân ếch vẫn có cử động co giật. Ông đóan là do điện sinh ra và chính bắp thịt chân con ếch tự sinh ra điện. Theo ông, trong con ếch luôn có hai thứ điện. Khi kim loai sắt và đồng chen vào thì trạng thái điện tích trong con vật bị xao động và sự co giật được nảy sinh. Ông còn cho bíêt rằng nếu kim lọai dung là kẽm và đồng sự kích thích sẽ mạnh hơn.

Volta thử lại thí nghiệm của Galvani và lúc đầu chấp nhận ý kíên trên. Nhưng về sau, chính Volta đã chứng minh sự lầm lẫn của Galvani. Theo Volta thì cơ thể con vật chỉ là một chất dẫn điện thường. Chứng điện sinh ra trong các kim lọai dị chất đã kích thích các dây thần kinh, và làm họat động các cơ. Nói cách khác con vật không thể vừa là chủ động vừa là bị động. Con vật chỉ bị động do điện sinh ra từ bên ngoài nó.

Và để chứng minh sự lầm lẫn của sự Galvani, Volta tạo ra điện với một thanh đồng và một thanh kẽm mà không cần có cơ thể con ếch.

Ngày 6/11/1801, ở Paris, Volta trình diện phát minh này với Napoleon Bonaparte.

Đệ nhất tổng tài Napoleon Bonaparte đón chào niềm nở nhà bác học Ý và mong muốn thấy sự họat động của cái vật kỳ lạ.

-“Kính ngài Đệ Nhật tổng tài, vật mà ngài thấy đây chỉ là một chuỗi dĩa nhỏ đồng và kẽm để chồng liên tục lên nhau với 1 mảnh tròn nhỏ thấm acid chen giữa. Tất cà đều bọc sáp bên ngòai để acid khỏi bay hơi.”

-“Thế còn hai đầu dây long thong này?”

-“Một dây gắn vào điã kẽm ở trên cùng và một dây gắn vào điã đồng ở dứơi chót.”

Và đây… vừa nói, Volta vừa chạm hai đầu dây gắn vào nhau thì một tia lửa điện văng ra.

-“Thật là huyền diệu!”- Napoleon nhiệt liệt tán thưởng.

Với hình dáng của một trụ đĩa chồng lên nhau chúng ta gọi đó là Pin ( Pile=chồng lên nhau thành một cột”

Cách biện luận của Volta mang đến kết quả hết sức hữu ích vì nhờ đó mới có hai phát minh rất quan trọng, thứ nhất là pin Volta và thứ nhì là nền tảng cho khoa điện sinh lý học.

Sau đó, Volta tự ép mình làm việc thật vất vả để hòan tất phát minh pin điện của mình. Ông bắt tay vào những thí nghiệm về các kim loại và hơn thế nữa, về một số lớn chất lỏng. Các thí nghiệm đã giúp ông thíêt lập nguyên lý theo đó các sức điện động công thêm vào nhau khi chúng được cấu tạo từng cặp kim loại ghép với nhau theo cùng một thứ tự. Vd: Đồng- Acid, Kẽm- Đồng, Acid- Kẽm,…

Danh từ pile/ pin gốc từ Latin “pilum” có nghai 4là cột trụ. Qủa thật pin Volta là cây cột trên đó người ta xây đắp cả tòa nhà của khoa Điện Học hiện đại ngày nay.

Ông đã được Hàn Lâm viện Pháp ân thưởng một huy chương vàng và từ bốn phương, các nhà thong thái ngỏ lời mời ông đến. Nhưng đáng quý hơn cả, đó là sự đóng góp to lớn của ông vào sự phát triển lâu dài của nhân loại

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
SỰ RA ĐI CỦA MỘT THIÊN TÀI

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
Năm 1823, cái chết đau đón của một đứa con đã gây cho ông xúc động qua 1mạnh khếin những ngày còn lại của ông trên cõi đời càng rút ngắn hơn. Vào hôm 5/03/1827, một ngôi sao sáng trên thế giới khoa học đã tắt lịm. Thiên tài Volta ra đi đã để lại cho thế hệ sau một hứơng đi mới, để thay đổi sâu rộng cả một thế giới mà ông không bao giờ ngờ tới cũng như không bao giờ có thể được chứng kiến.

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯

MỘT SỐ MỐC THỜI GIAN QUAN TRỌNG TRONG CUỘC ĐỜI ALEXANDRO VOLTA

¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
1774: ông trở thành giáo sư vật lý tại trường Khoa học hoàng gia ở Cosmo và trong những năm tiếp theo ông phát minh ra Electrophorus: thiết bị tạo ra dòng điện nhờ ma sát giữa đĩa và một bản kim loại.

1776-1777: ông tập trung nghiên cứu hoá học, nghiên cứu dòng điện trong chất khí và lập những thí nghiệm như sự phóng điện trong bình kín.

1779: ông trở thành giáo sư khoa vật lý trường đại học Pavia trong suốt 25 năm.

1800: Volta phát minh pin điện hoá (pin Volta), cha đẻ của pin hoá học hiện đại, tạo ra dòng điện ổn định.

Để tưởng nhớ phát minh vĩ đại, 1801, Napoleon đã phong Volta là bá tước, và tên ông được lấy làm đơn vị của hiệu điện thế.

Advertisements

Posted in Lịch sử Vật lý và các nhà Vật lý | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

Câu hỏi – Chương 1: Động học chất điểm

Posted by Tô Lâm Viễn Khoa trên 9 Tháng Chín, 2008

1. Chuyển động cơ học

Q: Khi nào số chỉ thời điểm trùng với số đo khoảng thời gian?

A: Khi ta chọn mốc thời gian là thời điểm vật bắt đầu chuyển động (thời điểm 0), thì số chỉ của thời điểm sẽ trùng với số đo khoảng thời gian đã trôi qua kể từ mốc thời gian.

Q: Cách vẽ hệ toạ độ

A: Đầu tiên cần chọn một vật làm mốc, chọn nó làm gốc tọa độ.
Nếu ch.động đang xét là chuyển động trên đường thẳng thì chọn một trục tọa độ có phương trùng với phương chuyển động. (thông thường là phương nằm ngang)
Nếu ch.động đang xét là chuyển động trong không gian, ví dụ chuyển động của một vật bị ném, thì chọn hệ trục tọa độ gồm 2 trục : Ox nằm ngang và Oy thẳng đứng

Q: Một vật được xem là chuyển động nếu có nó sự thay đổi khoảng cách so với vật làm mốc. Vậy, vật làm mốc khá quan trọng trọng việc xác định chuyển động của vật.
Ta nên chọn vật làm mốc được như thế nào? Có bắt buộc kèm theo điều kiện gì không? Chỉ nên chọn một hay nhiều vật làm mốc?

A: Không có điều kiện nào đối với vật làm mốc cả. Chỉ có lưu ý rằng ta nên chọn vật mốc để dễ làm bài. Nên chọn vật mốc ở vị trí xuất phát. Trong chuyển động tròn, nên chọn vật mốc ở điểm nằm trên đường tròn chứ không nên chọn tâm. Không nên chọn các vật mốc đang chuyển động, đặc biệt là các vật mốc đang chuyển động có không quán tính (do phải cộng thêm các vận tốc kéo theo, lực kéo theo rất phức tạp)

Q: Phân biệt hệ tọa độ và hệ quy chiếu.

A: Hệ quy chiếu = Hệ toạ độ + gốc thời gian
Nếu hệ toạ độ là (Oxyz) thì hệ quy chiếu là (Oxyz,t). Nói cách khác hệ toạ độ dùng để xác định vị trí trong không gian. Còn hệ quy chiếu dùng để xác định vị trí trong cả không gian và thời gian.
VD: nếu trong hệ toạ độ, vị trí của tôi là x=5 thì trong hệ quy chiếu, phải nói ra vị trí của tôi là x = 5 tại thời điểm t nào đó.

Q: SGK phát biểu: “Khi vật dời chỗ thì có sự thay đổi khoảng cách”, mà dời chỗ chính là chuyển động. Từ đó, có phát biểu cho rằng “đối với đầu mũi kim đồng hồ thì trục của nó là đứng yên.”. Đúng hay sai?

A: SAI.

Trong trường hợp trên, ta thấy nếu xét thêm điểm A ở cạnh trục kim đồng hồ (không nằm trên kim), khoảng cách từ điểm này đối với trục kim đồng hồ là không đổi. Do đó, điểm này và trục kim đồng hồ sẽ có cùng tính chất chuyển động hay đứng yên.
Lúc này ta nhận thấy, đối với đầu mũi kim đồng hồ thì khoảng cách từ nó đến điểm A là thay đổi => so với đầu kim đồng hồ, điểm A chuyển động. Mà A và trục kim đồng hồ có cùng tính chất chuyển động hay đứng yên. Vậy trục kim đồng hồ là chuyển động so với đầu kim đồng hồ.

Q: Toạ độ của một điểm có phụ thuộc vào gốc O được chọn không?

A: Có. Vì toạ độ của một điểm trên trục Ox có giá trị bằng khoảng cách từ gốc O đến vị trí của nó trên trục Ox (bao gồm cả chiều)

Q: Có thể lấy mốc thời gian bất kỳ để đo kỉ lục chạy của các vận động viên được không?

A: Được. Vì kỉ lục là khoảng thời gian, không phụ thuộc mốc thời gian.

Q: Khi đu quay hoạt động, bộ phận nào của đu quay chuyển động tịnh tiến? Bộ phận nào quay?

A: Khi đu quay đang hoạt động, các khoang ngồi của đu quay chuyển động tịnh tiến, còn các bộ phận khác của đu quay gắn chặt với trục quay của đu quay chuyển động quay.

Q: Một vật đứng yên nếu khoảng cách từ nó đến vật mốc không đổi. Đúng hay sai?

A: Sai. Ví dụ chuyển động tròn có khoảng cách không đổi.

Q: Khi xe đạp chạy trên đường thẳng, một điểm trên vành bánh xe sẽ vẽ một đường tròn. Đúng hay sai?

A: Có thể đúng, có thể sai. Nếu người quan sát ngồi trên xe sẽ thấy quỹ đạo là đường tròn, nhưng nếu người đứng ở lề đường nhìn sẽ thấy quỹ đạo là đường xycloit.

2. Chuyển động thẳng đều

Q: Khi nào giá trị của độ dời bằng quãng đường đi được?

A: Khi vật chuyển động 1 chiều theo chiều dương.

Q: Trong chương trình Vật lý cấp 2, và thực tế ta thấy rằng vận tốc luôn là đại lượng dương, nhưng tại sao trong bài học lại nói vận tốc có thể âm? Khi nào thì vận tốc của vật bị âm?

A: Trong thực tế hay trong chương trình, chúng ta có tốc độ là đại lượng luôn luôn dương. Tốc độ trung bình <!–[if gte msEquation 12]>vtb=st<![endif]–>

Vận tốc cũng dương vì độ lớn của vận tốc chính là tốc độ. Tuy nhiên, vận tốc là một đại lượng vectơ, mà đại lượng vectơ thì luôn có chiều. Khi ta nói v = -10m/s không có nghĩa là vận tốc là âm 10m/s mà có nghĩa là vận tốc là 10m/s theo chiều âm, tức là ngược với chiều dương đã chọn ban đầu. Như vậy dấu “-” chỉ thể hiện chiều của vận tốc chứ không phải thể hiện dấu âm của vận tốc.

Cần nhớ: Trong vật lý, không có đại lượng nào âm. Hầu hết dấu âm chỉ thể hiện nó ngược chiều dương.

Q: Đường đi (quãng đường) và độ dời  khác nhau ở điểm nào ?

A:


A                                                   C                              B
Quãng đường AB được coi là đoạn đường xe từ A đi đến B.
Giả sử xe đó đi đến B và quay lại A  tại C. Quãng đường xe đi được là AB +AC.
Còn độ dời là đoạn AC như hình trên. Từ đó ta thấy điểm khác nhau giữa độ dời và đường đi.
Độ dời là khoảng cách tư điểm xuất phát đến điểm dừng.
Đường đi là tổng độ dài quãng đường xe đi từ điểm xuất phát đến điểm dừng.
Độ dời = Đường đi khi và chỉ khi chuyển động của xe là chuyển động thẳng không quay lại hay đổi chiều. (chiều dương là chiều chuyển động)

3. Chuyển động thẳng biến đổi đều

Q: Gia tốc trong chuyển động thẳng nhanh dần đều luôn lớn hơn gia tốc của chuyển động thẳng chậm dần đều. Đúng hay sai?

A: Sai. Vì độ lớn của gia tốc chỉ phụ thuộc vào tốc độ biến đổi vận tốc, dấu của nó chỉ biểu thị chiều của vectơ gia tốc so với chiều dương của hệ quy chiếu.

Q: Chuyển động nhanh dần đều có gia tốc lớn thì có vận tốc lớn. Đúng hay sai?

A: Sai. Vì gia tốc là tốc độ biến đổi vận tốc chứ không phải độ lớn vận tốc.

4. Sự rơi tự do:

Q: Khi rơi tự do ở cùng một độ cao, quỹ đạo của mọi vật là như nhau. Đúng hay sai?

A: Đúng.

5. Chuyển động tròn đều:

Q: Đối với một chuyển động tròn đều, trong 3 đại lượng sau: tốc độ dài, tốc độ góc, gia tốc hướng tâm, đại lượng nào phụ thuộc vào bán kính quỹ đạo?

A: Dựa vào công thức và định nghĩa, ta thấy ngay cả tốc độ góc là đại lượng duy nhất không phụ thuộc vào bán kính quỹ đạo.

Q: Tại sao chuyển động tròn đều có vận tốc không đổi mà lại có gia tốc?

A: Cần hiểu, trong chuyển động tròn đều, chỉ có độ lớn của vận tốc là không đổi, phương và chiều của vectơ vận tốc thì luôn luôn theo đổi theo phương tiếp tuyến. Do vậy, vectơ vận tốc luôn luôn thay đổi dẫn đến xuất hiện gia tốc hướng tâm.

Q: Trong các chuyển động tròn đều có cùng bán kính, chuyển động nào có chu kì quay lớn hơn thì có tốc độ dài lớn hơn. Đúng hay sai?

A: Sai. Vì qua công thức <!–[if gte msEquation 12]>T=2πRv<![endif]–>, ta thấy ngay T và v tỉ nghịch với nhau.

Q: Trong chuyển động tròn đều cùng chu kỳ, chuyển động nào có bán kính nhỏ hơn sẽ có tốc độ góc nhỏ hơn. Đúng hay sai?

A: Sai. Vì tốc độ góc không phụ thuộc vào chu kì.

Q: Trong chuyển động tròn, gia tốc của chất điểm là gia tốc hướng tâm. Đúng hay sai?

A: Sai. Chỉ có trong chuyển động tròn đều thì gia tốc mới là gia tốc hướng tâm. Còn trong chuyển động không đều, còn có một vectơ gia tốc khác nữa là vectơ gia tốc tiếp tuyến gây ra do sự biến đổi độ lớn vận tốc. Lúc này, vectơ gia tốc là tổng hợp của 2 vectơ gia tốc tiếp tuyến và gia tốc hướng tâm (pháp tuyến).

6. Tính tương đối của chuyển động – Công thức cộng vận tốc:

Q: Những đại lượng nào có tính tương đối?

A: Toạ độ, quỹ đạo, vận tốc, gia tốc.

Q: Nói khoảng cách giữa hai điểm trong không gian là tương đối có đúng không?

A: Sai. Vì khoảng cách không phụ thuộc vào hệ quy chiếu.

7. Sai số trong phép đo thực hành

Q: Có mấy đơn vị chuẩn theo hệ SI?

A: Có 7 đơn vị cơ bản: độ dài (m), thời gian (s), khối lượng (kg), nhiệt độ (K), cường độ dòng điện (A), cường độ sáng (cd), lượng chất (mol)

Nguồn: Lớp học vật lý, SGV Vật lý lớp 10, Hỏi đáp lớp 10.

Posted in Câu hỏi vật lý, Học sinh, Vật lý | Tagged: , , , , , , , , , , , | 4 Comments »

Lễ khai giảng đặc biệt

Posted by Tô Lâm Viễn Khoa trên 9 Tháng Chín, 2008

TT – Buổi khai giảng ở ngôi trường ấy (tại Bình Quới, Thanh Đa, TP.HCM) diễn ra rộn rã trong tiếng đập tay thình thịch của một đứa trẻ ở góc này, tiếng ú ớ gào to của một đứa trẻ khác ở góc kia, tiếng hát toàn những câu không rõ lời của một đứa trẻ khác trên bục khai giảng…

Cũng là một buổi khai trường như bao nhiêu ngôi trường khác nhưng ở đây cả cô hiệu trưởng, giáo viên và phụ huynh đều bật khóc – những giọt nước mắt hạnh phúc. Bên dưới cha mẹ sụt sùi nắm tay nhau thật chặt. Cô giáo ôm trò chặt hơn bởi chỉ cần một phút lơi lỏng, một bé nào đó có thể tát vào mặt bạn ngồi bên cạnh hay chạy thục mạng ra hồ bơi bên ngoài bất chấp nguy hiểm. Chị phụ trách, dù đứng đầu ngôi trường mầm non này nhưng chưa bao giờ có ai gọi là “cô hiệu trưởng”, nghẹn ngào không nói nên lời.

Tất cả đều xúc động mạnh, xúc động vì quá hạnh phúc bởi đó là ngôi-trường-trong-mơ của họ, nhất là những người làm cha, làm mẹ. Từ nay, những đứa con quý hơn bất kỳ thứ gì trên đời này của họ – những đứa trẻ mắc hội chứng tự kỷ và chậm phát triển trí tuệ – đã có một ngôi trường để học, một ngôi trường dành riêng cho chúng.

Một ngôi trường mà đứa con yêu của họ không bị buộc phải thay đổi để thích ứng với trường, mà ngược lại, tất cả những người trong trường, từ ban giám hiệu tới cô giáo hay ngay cả anh bảo vệ cũng phải thay đổi chính mình để thích ứng với bé. Một ngôi trường có chưa đầy 20 bé thì cũng tròm trèm 20 cô trực tiếp dạy học.

Một ngôi trường mà khi đứa con 5 tuổi của họ chỉ chấp nhận nằm võng thì sẽ có võng cho bé ngủ, khi đứa con 6 tuổi của họ chỉ thích bò thì hằng ngày cô giáo sẽ lăn ra sàn mà bò chung với bé, khi đứa con 7 tuổi của họ lao vào cô cắn xé đến rách da thì cô sẽ ôm con thật chặt trong vòng tay để con có được cảm giác an toàn…

“Không ai mong muốn sẽ sinh ra những đứa con như thế này, nhưng chính các con đã làm cho chúng ta yêu thương những người xung quanh hơn, làm cho những phụ huynh xa lạ bỗng trở nên thân thiết còn hơn những người bạn lâu năm. Xin cảm ơn các con”. Lời của chị phụ trách, cũng là mẹ một đứa con tự kỷ, đã khép lại buổi khai trường có lẽ được tổ chức đơn sơ nhất ở TP.HCM, thành phố náo nhiệt nhất nước này, nhưng thật sự là một buổi khai giảng tưng bừng đầy nước mắt của tình người.

Posted in Nghề giáo | Tagged: , | Leave a Comment »